Can thiệp có chứng cứ (evidence-based intervention) là những biện pháp, tiếp cận, hoặc chương trình được thiết kế và thực hiện dựa trên các bằng chứng khoa học đáng tin cậy, đã được kiểm chứng qua nghiên cứu và thực nghiệm rõ ràng.
Đặc điểm của can thiệp có chứng cứ:
1. Dựa vào nghiên cứu khoa học: Có ít nhất một hoặc nhiều nghiên cứu kiểm soát chất lượng cao chứng minh hiệu quả.
2. Tái lập được: Có thể thực hiện lại trong các bối cảnh khác nhau và vẫn đạt được kết quả tương tự.
3. Có đánh giá kết quả rõ ràng: Có các tiêu chí đánh giá và kết quả cụ thể để theo dõi hiệu quả như quan sát và đo lường cụ thể.
4. Được khuyến nghị bởi các tổ chức chuyên môn: Ví dụ như WHO, CDC, hay các hiệp hội nghề nghiệp uy tín như APA, AAP (Hiệp hội hàn lâm nhi hoa Hoa Kỳ); CPS (Hiệp hội nhi khoa Canada)…
-Can thiệp có chứng cứ cho trẻ tự kỷ là các phương pháp hoặc chương trình điều trị được khoa học chứng minh là hiệu quả trong việc cải thiện hành vi, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xã hội và khả năng học tập của trẻ rối loạn phổ tự kỷ (ASD).
-Các chương trình can thiệp sớm cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ dựa trên ABA (Applied Behavior Analysis) hay can thiệp dựa trên tự nhiên, phát triển và hành vi như ESDM, JASPER, Pivotal response training…., can thiệp về xã hội, PECS, can thiệp dựa vào cấu trúc và hình ảnh hỗ trợ như TEACCH…
Một số chương trình huấn luyện cho phụ huynh (Parent mediated interventions) có chứng cứ như: Hanen “More Than Words”, PACT,… Nhằm tăng tính nhất quán và hiệu quả của can thiệp.
Lưu ý khi lựa chọn can thiệp:
Nên được thực hiện bởi chuyên gia được đào tạo bài bản.
Cần cá nhân hóa theo nhu cầu và mức độ phát triển của từng trẻ.
Tránh các phương pháp chưa được kiểm chứng (ví dụ: thải độc, chế độ ăn không rõ ràng…).
Tránh bị dẫn dắt bởi các quảng cáo thần kỳ như “chữa lành não bộ” , “kích thích não bộ”, “trường phái tự nhiên”….hoặc các máy móc kích thích não, thay đổi điện não…., bấm huyệt, kéo lưỡi…Các cách thức này không có chứng cớ khoa học vì không thoả mãn các tiêu chí về liệu pháp có chứng cớ khoa học như đã trình bày ở trên và có khi gây nguy hiểm cho sự phát triển của trẻ. Tất cả các hiệp hội nghề nghiệp có uy tín hay FDA (Food and Drug Administration: Cục quản lý thực phẩm, dược phẩm Hoa Kỳ) đều không có khuyến cáo về các cách thức kích thích não bộ để can thiệp cho rối loạn phổ tự kỷ.
Làm sao để biết rằng người nào đó có năng lực chuyên môn?
-Đầu tiên là học hành căn bản: Cần được đào tạo trong lãnh vực chuyên môn: y khoa, tâm lý, giáo dục đặc biệt….
-Kế tiếp là khả năng thực hành, không phải chỉ là học để có bằng cấp cao mà: Được đào tạo và giám sát thực tế về thực hành đối với các trường hợp cụ thể, ví dụ để có thể thực hành được can thiệp về tâm lý hay các mô hình can thiệp ABA, ESDM, JASPER, PECS… cần được giám sát thực hành bởi nhà chuyên môn đã được xác nhận ở lãnh vực đó trong vài nghìn giờ. Cần phân biệt giữa một bằng cấp cao về nghiên cứu và khả năng thực hành.
-Có khả năng thực hành độc lập, được thể hiện bằng:
+Có thể đánh giá trẻ để phát hiện điểm mạnh, yếu, tiềm năng ở nhiều lãnh vực khác nhau dựa vào các công cụ đánh giá tiêu chuẩn hay đánh giá lâm sàng bài bản.
+Lên được kế hoạch, mục tiêu cụ thể dựa vào mức phát triển
+Làm việc trực tiếp với trẻ bằng kỹ năng đã được đào tạo, áp dụng nhuần nhuyễn các kỹ năng này để giúp trẻ tiến bộ, đạt được mục tiêu can thiệp
+Theo dõi sự tiến bộ của trẻ bằng hệ thống quan sát, đo lường cụ thể về hành vi, kỹ năng.
+Lên kế hoạch và mục tiêu can thiệp kế tiếp.
+Làm việc với phụ huynh, hỗ trợ họ biết cách khái quát các kỹ năng trẻ đã học được tại môi trường gia đình và môi trường khác.
+Giải đáp các thắc mắc cho phụ huynh dựa trên các thông tin khoa học hiện hành.
+Đồng hành, ủng hộ phụ huynh để giúp họ độc lập trong việc hỗ trợ cho con hơn là đe doạ để gia tăng sự phụ thuộc vào nhà chuyên môn.
Nguồn: Bác sĩ Phan Thiệu Xuân Giang




